DATDUNG  |  ePHIM
๑۩۞۩๑ (¯`°•.¸¯`°•† CL.DATDUNG.COM †•°´¯¸.•°´¯) ๑۩۞۩๑

NGÀY TẾT TẢN MẠN VỚI CẢI LƯƠNG NAM BỘ - Châu An Thuận



Ngày thường dân Sài gòn vẫn thích coi cải lương .
Tết đến cải lương lại càng không thể thiếu đối với họ.
Đó là thực trạng cải lương ở Sài Gòn trong những năm đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ trước.
Ngòai các đoàn hát vừa và nhỏ thường xuyên lưu diễn ở các tỉnh lẻ, các đoàn lớn được gọi là đại ban đều tập trung diễn các rạp ở Sài Gòn như: Thanh Minh- Thanh Nga, Hương Mùa Thu, Út Bạch Lan-Thành Được, Dạ Lý Hương, Kim Chưởng…Những soạn giả nổi tiếng thời ấy có: Hà Triều- Hoa Phượng, Viển châu, Qui Sắc, Điêu Huyền, Thu An…Những đào kép tên tuổi như: đào thương thì Thanh Nga, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Ngọc Hương, Diệu Hiền, Thanh Hương…Kép mùi có Út Trà Ôn, Thành Được, Tấn Tài, Thanh Hải…Kép độc có Hoàng Giang, Trường Xuân, Việt Hùng…Kép hài có Văn Hường, Hề Minh…Những vở cải lương đựợc đông đảo khán giả ái mộ đến bây giờ nghe lại không ít người vẫn còn thích như: tâm lý xã hội có Con gái chị Hằng, Hai chuyến xe hoa, Đôi mắt người xưa, Sông dài, Nửa đời hương phấn… do đoàn Thanh Minh- Thanh Nga diễn. Những vỡ mang tính sử thi có: Đêm mộng hồ Tây, Lá của rừng xanh, Hai chiều ly biệt, Tiếng trống sang canh, Nắng chiều trên sông Dịch, Ảo ảnh Châu Bích Lệ…do đoàn Hương Mùa Thu diễn. Nếu ai thích những vở tâm lý xã hội đương đại có: Tướng cướp Bạch Hải Đường, Tuyệt tình ca… được đoàn Dạ Lý Hương diễn. Sân khấu diễn thì hầu hết các quận đều có. Rạp Hưng Đạo, Nguyễn Văn Hảo ở quận 1; Thủ Đô, Lệ Thanh quận 5, Tân Bình, Tân Lạc, Quốc Thái quận 6 và hầu hết các rạp chiếu phim ban ngày, tối lại là nơi cải lương diễn. Khán giả các tầng lớp thượng vàng hạ cám đều có: từ Công chức, giáo viên, chủ xí nghịệp, tiểu thương, đến người mua gánh bán bưng đầu chợ bên đường, anh đạp xích lô cả đến sinh viên học sinh và bọn con nít chúng tôi…
Hồi ấy tôi còn nhỏ lắm được cha mẹ dẫn đi coi cải lương để vui buồn theo vai diễn rồi… quên. Nhưng dần dần thông qua các nhân vật trong kịch bản tôi bắt đầu có khái niệm yêu ghét cái thiện, cái ác, cái đúng, cái sai rồi từ đó nhận ra ai trung, ai nịnh, ai yêu nước thương nòi, ai mãi quốc cầu vinh và rồi tôi yêu thích cải lương lúc nào cũng không hay!? Tôi không đồng tình với Ngoạ triều Lê Long Đỉnh đan tâm giết anh để soán ngôi, hoang dâm, giết hại công thần Quốc Nghi giữa buổi thượng triều ( Tiếng trống sang canh).Tôi ghét cay ghét đắng người đứng đầu dòng họ Chu Sơn, chỉ vì mưu cầu quyền lực công hầu khanh tướng mà làm mất đi sức mạnh tổng hợp hai dòng họ Chu Sơn- Trần Tử để cuối cùng quân Tần vượt qua sông Dịch tóm thâu Yên quốc( Nắng chiều trên sông Dịch). Tôi cảm phục lòng yêu nước, thương dân của Hoàng tử đất Ba Tư Ai Bình Cơ, vì dân vì nước phải gạt bỏ tình riêng, thiêu sống người yêu là Yên Lang công chúa, con gái cưng của bạo chúa Mông Kha( Hai chiều ly biệt). Tôi nghe tim mình rưng rưng nước mắt trước sự hy sinh của người em gái Lệ Hoa cho chị được vẹn toàn hạnh phúc( Hai chuyến xe hoa). Tôi đau xót cho mối tình đầu của cô gái quê Hiền với người con trai thành phố. Chiến tranh làm cho họ lạc nhau. Họ vẫn ra sức tìm nhau, nhưng đến khi gặp nhau, chàng đã là bác sĩ và yên bề gia thất bên vợ đẹp con ngoan. Nàng vì hạnh phúc của Vũ, Hiền phải ôm con lặng thầm ra đi(Đôi mắt người xưa).
Tôi nhận ra mình yêu cải lương vì trước hết là nội dung kịch bản toát lên truyền thống bản sắc văn hóa, đạo đức dân tộc: Trung can, nghĩa khí, vì dân vì nước quên thân, trên chính trực dưới tuân thủ, Cha hiền con hiếu thảo, anh em như tay chân, Vì hạnh phúc người mà phải hy sinh hạnh phúc mình, thiện hay ác cuối cùng cũng có báo ứng….Tiếp theo, từ ngữ được viết theo một chuẩn mực không khô khan, không uỹ mị, không cầu kỳ bác học, không bình dân buông thả, đặc biệt là cách tu từ. Để nói về Thị Mầu có chửa hoang, soạn giả viết: “Vì sao kín cổng cao tường mà trong tường lại nở hoa?”( Quan âm Thị Kính) hay để khẳng định sự tất thắng của chính nghĩa, Thu An đã viết: “Hãy giết chúng tôi đi vì chúng tôi là lá của rừng xanh”( Lá của rừng xanh). Làm sao mà “ giết” hết lá của rừng xanh( làm sao mà diệt chính nghĩa!). Một câu nói trong một vở diễn mà bao nhiêu năm nay tôi vẫn còn nhớ như in bởi nó cho khán giả một ấn tượng: chính nghĩa luôn luôn thắng gian tà, mặc dù trong nhất thời chính nghĩa phải còn vượt qua nhiều khó khăn gian khổ. Câu nói có nghĩa na ná như câu nói của Nguyễn Trung Trực: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”. Thứ hai cải lương chủ yếu là ca và diễn: hầu hết những vỡ diễn những năm đầu của thập niên 60 không có nhiều lời thoại. Soạn giả khéo léo thay những cuộc đối thoại của hai hay nhiều nhân vật bằng những bản vắn thích hợp cho từng tính cách nhân vật. Lúc ấy có sự phân biệt rạch ròi giữa cải lương và thoại kịch( kịch nói) và nếu tôi không lầm thì ở Sài Gòn có hai ban thoại kịch nổi tiếng: thoại kịch Kim Cương và La Thoại Tân. Thứ ba là mỗi một nghệ sĩ đều có một tính cách ca diễn, một sở trường riêng không ai nhầm lẫn đựợc. Cùng là đào thương nhưng Út bạch Lan thì nức nở cao vút còn Thanh Nga thì chầm chậm trầm buồn. Cùng là kép mùi nhưng Út trà Ôn thì rắn chắc đỉnh đạc còn Tấn Tài thì bi thương réo rắt. Cùng là kép độc nhưng Hoàng Giang thì đáng ghét còn Trường Xuân thì đáng sợ( không biết có phải vì cái đầu trọc của ông không?). Cùng là kép hài nhưng Văn Hường và Hề Minh đều có cách ca diễn hài không giống nhau.
Nhìn chung những yếu tố tôi cảm nhận trên đây trên đây vẫn là phiến diện, chưa đầy đủ, chưa bộc lộ hết những cái được và chưa được từ soạn giả, kịch bản, nghệ sĩ, sân khấu, hoàn cảnh xã hội, không gian và thời gian… Nhưng có một điều tôi mạnh dạn khẳng định: “ Cải lương ở Sài Gòn vào những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ 19 thật sự đã lên ngôi”./.
Châu An Thuận
List of songs with Catalogue

0 nhận xét : NGÀY TẾT TẢN MẠN VỚI CẢI LƯƠNG NAM BỘ - Châu An Thuận

Đăng nhận xét

[▼/▲] Emoticons