DATDUNG  |  ePHIM
๑۩۞۩๑ (¯`°•.¸¯`°•† CL.DATDUNG.COM †•°´¯¸.•°´¯) ๑۩۞۩๑

Trần Hữu Trang và cuộc xung đột cũ mới

Xem hình
Sự xung đột MỚI CŨ là một chủ đề mà soạn giả Trần Hữu Trang đề cập trong nhiều vở nổi tiếng của ông như Tô Ánh Nguyệt, Chị chồng tôi.

Vở Tô Ánh Nguyệt mang tên nhân vật chính Tô Ánh Nguyệt. Nguyệt có người yêu là Minh. Nhưng gia đình Nguyệt thì lại không bằng lòng cho hai người xây dựng gia đình với nhau vì đã chọn cho Nguyệt một người chồng là Bích có địa vị xã hội hơn Minh. Bị ép gả, Nguyệt bỏ nhà trốn đi để giữ trọn mối tình với Minh, vì lúc đó, Nguyệt đã mang thai với Minh rồi. Nguyệt cam sống trong cảnh thiếu thốn, bị gia đình ghét bỏ, xã hội chê bai. Khi sinh đứa con đầu, Nguyệt nghĩ mình khó bảo đảm cho đứa trẻ, nên đành xa con, đem con đến trao cho Minh nuôi dạy. Minh cũng đã cưới vợ vì áp lực của gia đình. Không muốn để Thu Dung (vợ Minh) biết câu chuyện trước, nên khi gặp Thu Dung, Nguyệt nói dối là vì nghèo không thể nuôi được con nên đem con đến nhờ vợ chồng Minh làm phúc nhận làm con nuôi. Mười tám năm trôi qua, Tâm - tên đứa con - đã trưởng thành và lấy vợ. Vẫn không dám nhận con sợ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của chồng con, Nguyệt thêu một đôi mặt gối gửi mừng con mà không bảo là của ai cả. Trong khi ấy thì Tâm thấy cha thường lui tới nhà Nguyệt là một người đàn bà bị dư luận chê bai, liền tìm đến yêu cầu Nguyệt không được quyến rũ cha mình, phá hoại sự yên ấm gia đình mình. Tâm không nén được, đã dùng nhiều lời nặng nề với chính mẹ mình. Nguyệt cắn răng chịu đựng tất cả. Minh biết chuyện, thương Nguyệt và giận mình nhu nhược để riêng mình Nguyệt phải hy sinh, ngày đêm tâm trí bị giày vò, cuối cùng mang bệnh nặng. Trước lúc chết, Minh nói hết mọi chuyện và đến lúc ấy mọi người mới hiểu rõ sự hy sinh cao thượng của Nguyệt.

Trong vở Tô Ánh Nguyệt, Trần Hữu Trang lên án hàng loạt tập tục bất công, vô lý, bất nhân của chế độ gia đình phong kiến.

Soạn giả để Nguyệt nói với Bích: “A, có lẽ theo ý thầy nghĩ, trong cuộc hôn nhân thì đôi bên, cửa nhà cho xứng, tiền bạc ngang nhau, hay ít ra cậu trai cũng được đôi ba cái cấp bằng, chừng ấy thì tha hồ mà lòe đời, tha hồ mà mua dâu bán rể, mà chiếm lòng yêu của một cô gái còn thơ, có phải chăng thưa thầy?”
Đó là một câu nói vạch trần những tính toán xấu xa núp sau cái bình phong môn đăng hộ đối. Hôn nhân chỉ là một chuyện mua bán đổi chác, một là ngang giá, hai là bên nào cao giá hơn thì có quyền áp đặt điều kiện cho bên kia.

Một khi đã tính toán có lợi, cha mẹ dùng quyền lực bắt buộc con cái phải vâng theo, không được xin một điều kiện nào hết, không được nêu một lý do nào hết để khước từ. Mệnh lệnh của gia đình là tuyệt đối. Ông Cả (cha của Nguyệt) tuyên bố (ca Mẫu tầm tử):

Chớ toan lắm lời
Dù chẳng ưng, tao cũng lo xong
Chỗ môn đương hộ đối mà mày chê
Tao lẽ đâu thất hứa với người
Mày không đành ương cũng trối thây”.

Soạn giả phê phán chế độ đa thê, vốn là một sự bất công trắng trợn đối với người vợ. Sau đây là một đoạn đối thoại giữa Minh và Thu Dung (người vợ mà gia đình cưới cho Minh).

Dung: Tại tập quán của phong tục, tại sự bất công của xã hội. Đối với phái nữ lưu thì hết sức nghiêm khắc, mà đối với bọn đàn ông thì lại được dung túng tự do, có nhiều chỗ em thấy một chồng tới đôi bà vợ.
Minh: Mà em có ưng như thế không?
Dung: Em thì hết sức phản đối việc ấy, em chỉ thích một vợ một chồng thôi.
Minh: Vậy thì em tham lắm.
Dung: Vâng ai cười em tham thì em chịu, ái tình không thể san sẻ cho ai được cả. Chỉ có một vợ một chồng là họa may mới giữ được sự đầm ấm trong gia đình.
Minh: Ngộ như vợ chồng ở với nhau lâu mà không có con, em cũng không bằng lòng cưới vợ lẻ cho chồng nữa sao?
Dung: Điều ấy là một trường hợp bất thường, chứ không phải trong cảnh thường. Song, nếu có cũng là một sự bắt buộc theo chủ nghĩa gia đình, chớ thật ra em cũng không ưng chút nào cả.

Lý luận của chủ nghĩa gia đình là vậy. Đàn ông năm thê bảy thiếp, là thường, đàn bà giữ riêng chồng cho mình là tham lam ích kỷ. Người vợ chỉ có chức năng đẻ con nối dõi dòng họ, nếu không làm được việc đó thì người chồng lấy vợ khác. Vô lý và tàn nhẫn biết bao nhiêu!

Soạn giả cho ta thấy tính chất bất nhân của tập tục nuôi con nuôi trong xã hội cũ. Đây không phải là một hành vi nhân đạo nhằm mục đích giúp đỡ người mẹ và bảo trợ đứa trẻ. Đây là sự chiếm đoạt. Người mẹ không có điều kiện nuôi con phải đem con cho hoặc bán cho người khác thì coi như mất con hoàn toàn, không được giữ một quan hệ nào, kể cả quan hệ tình cảm. Thu Dung đã đặt điều kiện với Nguyệt:

“Khi nó lớn lên cô cũng không được nhìn nhận nó mà chuộc nó về, vì tôi nuôi nó, tôi thương tôi mến nó, thì cô phải để nó ở luôn với tôi mới được”.

Đặc biệt đối với vấn đề tự do luyến ái thì thái độ của các người bề trên trong gia đình cũ không bao giờ chấp nhận. Đối với những người này, tự do luyến ái đồng nghĩa với yêu đương bất chính. Nguyệt nói rõ quan niệm ấy: “Vì theo lời thư trước anh gửi về nhà tỏ thật là anh phải lòng em, nhưng em dám chắc đối với thành kiến các cụ thì bao giờ ở nhà cũng nghĩ rằng anh mê một ả nào, nên mới gởi thơ như thế. Hôm nay, giục anh về là có ý muốn đoạn tuyệt mối tình giữa chúng ta, mà hơn nữa là cưới vợ cho anh, để anh quên người yêu của anh, vì cái người anh yêu ấy, các cụ bao giờ cũng nghĩ cho là người không xứng đáng”.

Và người cha của Nguyệt mắng con: “Nguyệt! Tại sao con lớn gan làm vậy? Tao nghĩ, tao với mẹ mày cho mày đi học uổng lắm. Học nhiều chừng nào hư chừng ấy, chớ không ích gì. Tại sao chỗ cha mẹ định con không ưng, rồi con lại tự ý đi làm chuyện xấu hổ này. Đó, con làm vậy khổ cho cha mẹ đã già, con trả ơn cha mẹ bằng cách đó phải không?”

Đối với ông bố bảo thủ ấy, trai gái nói chuyện với nhau là hư hỏng, con gái chưa có mai mối mà gặp người con trai là lang tâm trắc nết, người con trai được nhận tấm lòng yêu là dụ dỗ, quyến rũ gái tơ, v.v…

Trong vở Tô Ánh Nguyệt, Trần Hữu Trang đứng trên lập trường phê phán những tập tục cũ.

Trong vở Chị chồng tôi, Trần Hữu Trang trình bày một tình trạng mà tục ngữ cũ đã từng nói: giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.

Phú và Quý là hai chị em. Quý đi học ở Hà Nội gặp Oanh, một người bạn học. Oanh quê ở Nam bộ theo cha mẹ ra Hà Nội lập nghiệp làm ăn. Không may cha mẹ Oanh, lần lượt qua đời. Thấy tình cảnh Oanh rất khó khăn, Quý hết lòng giúp đỡ. Hai người yêu nhau. Sau khi tốt nghiệp, Quý về quê và đưa Oanh về giới thiệu với gia đình.

Nhưng gia đình Quý không chấp nhận Oanh vì đã dự định cưới cho Quý một người vợ là con nhà giàu có. Trong việc này, Phú là người chủ mưu. Vì Phú tính toán nếu Quý lấy vợ giàu thì tất cả gia tài sẽ về tay vợ chồng chị ta hết. Phú ra sức xúi giục mẹ và hành hạ Oanh. Rút cục Quý và Oanh phải đem nhau đi.
Quý và Oanh xin được việc làm ở một hãng buôn. Nhưng lão chủ manh tâm quyến rũ Oanh. Không đạt được mục đích, nó đuổi Quý không cho làm, đồng thời lại vu cáo cho Thanh, một người bạn tốt của Quý, là có tình ý với Oanh.

Quý vừa buồn vừa lo, sinh bệnh. Oanh thương chồng, nuốt nhục về nhà xin mẹ Quý giúp cho ít tiền để chữa bệnh cho chồng. Nhưng Oanh chỉ gặp Phú, bị Phú sỉ nhục đuổi đi.

Quý bệnh ngày một nặng, Oanh lại sinh con. May nhờ Thanh hết lòng giúp đỡ.

Gia đình Quý hỏi dò tìm được đến nhà Quý, mới hay Phú đã nhẫn tâm đối xử không chút nhân đạo với chính em trai mình. Nhưng bệnh quá nặng, Quý không sống được. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Quý trối trăng lại nhờ Thanh nuôi dạy đứa nhỏ. Oanh chỉ kịp trao đứa con cho Thanh rồi gục xuống bên mình chồng.
Trong vở Chị chồng tôi, Trần Hữu Trang đứng về phía tình yêu tự do và lên án những tập tục gia đình khắt khe, bảo thủ cũng như trong vở Tô Ánh Nguyệt. Cái chết của Minh (Tô Ánh Nguyệt) và của Quý (Chị chồng tôi) là những lời tố cáo quyết liệt. Mức độ tố cáo trong Chị chồng tôi cao hơn trong Tô Ánh Nguyệt. Hình ảnh Oanh gặp cảnh gia đình tai biến, xa quê hương, may gặp được Quý và được trở về quê hương, tưởng là có tình yêu, có gia đình và có cả quê hương, nào ngờ gia đình Quý không nhận. Theo chồng đi thì bị tên chủ hãng khốn nạn quyến rũ rồi vu cho điều bất chính khiến chồng nghi ngờ. Trở về nhà mày dày mặt dạn để xin tiền chữa bệnh cho chồng thì bị sỉ nhục. Và cuối cùng là hai cái chết. Đứa nhỏ vừa ra đời bảy ngày đã bị mồ côi cả cha lẫn mẹ. Tất cả những cảnh ngộ bi đát ấy là do tập tục gia đình cũ gây nên. Trên sân khấu, gia đình cũ đã được hiện thân trong Bà Hai, Ông Cả và nhất là Phú – hình tượng Phú đanh ác, điêu ngoa, tàn nhẫn, xảo quyệt làm cho người xem vô cùng căm giận. Càng căm giận bao nhiêu, người ta càng thương xót Oanh bấy nhiêu.

Trong Chị chồng tôi, soạn giả đã thấy được mối quan hệ giữa tập quán xã hội với cơ sở kinh tế. Phú quyết tâm phá hoại hạnh phúc của Quý và Oanh, cũng do lòng tham lam muốn dành cho mình tất cả gia tài. Soạn giả đã để cho Quý nói rõ điều này: “Phải chăng chị muốn cho tôi đi đào mỏ, đặng ngồi trên đống vàng mà hưởng của bên vợ ban cho. Tôi có vợ giàu thì cái gia tài này mới còn nguyên vẹn, chớ còn chị nhìn Oanh là em dâu, đứa con gái nhà nghèo không có của hồi môn, thì ở đây khỏi chi không bám vào nhà chồng thì cái sự nghiệp này phải hao mòn đi. Nhưng không sao đâu chị, tôi đã liệu sẵn sàng rồi, tôi ra đi, cái gia sản này giao hết cho vợ chồng chị, ngày nào chị nghe tin tôi không trở về, thì chị trọn quyền thừa hưởng”. Trong cuộc xung đột MỚI CŨ, Trần Hữu Trang đã phát hiện được đằng sau những lập luận đạo đức, là những lý do kinh tế, là đầu óc tham lam vị kỷ. Đây là một sự kiện quan trọng mà các soạn giả sân khấu khác chưa đề cập đến.
Chống lại những hủ tục, Trần Hữu Trang kiên quyết đấu tranh cho hôn nhân tự do. Điều kiện cần thiết trong việc xây dựng gia đình là tình yêu. Tất cả những điều khác như môn đăng hộ đối, giàu sang, địa vị, bằng cấp, tiền bạc… đều không cần thiết. Cuộc hôn nhân chỉ tốt đẹp khi là kết quả của tình yêu, chỉ có tình yêu mới bảo đảm được hạnh phúc gia đình.

Hoàng Như Mai (Theo Tuyển tập Lý Luận phê bình VHNT Tiền Giang)
List of songs with Catalogue

0 nhận xét : Trần Hữu Trang và cuộc xung đột cũ mới

Đăng nhận xét

[▼/▲] Emoticons